Tìm hiểu về Phân Bón Miền Nam, các loại phân bón, kỹ thuât bón phân, kỹ thuật chăm sóc cây trồng, hướng dẫn sử dụng phân bón,..

Nếu bạn cần tư vấn thêm, chat ngay với AI của chúng tôi.

1Phân bón (Fertilizer)

Phân bón là những chất hay hợp chất có chứa 1 hoặc nhiều chất dinh dưỡng khoáng thiết yếu với cây trồng, nó có tác dụng thúc đẩy sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng hoặc cải tạo đất.

2Dinh dưỡng hữu hiệu (Availble Nutrient)

Dinh dưỡng được cây trồng hút bởi rễ hoặc lá ở dạng ion hoặc phức trong dung dịch. Các dạng chất dinh dưỡng thiết yếu với cây trồng rất khác biệt bởi cấu tạo hóa học và độ tan của nó trong nước. Chỉ những dạng mà cây trồng có khả năng hút mới được coi là hữu hiệu.

3Phân hóa học (Chemical Fertilizer)

Là công nghệ sản xuất thường có phản ứng hóa học xảy ra, tuy nhiên một số trường hợp sản xuất theo công nghệ tinh tuyển vật lý từ khoáng vật sẵn có trong tự nhiên cũng coi là phân hóa học.

4Phân vô cơ (Inorganic Mineral Fertilizer)

Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO), phân vô cơ (phân khoáng) là phân bón mà các chất dinh dưỡng ở dạng muối vô cơ được tạo thành do công nghệ vật lý hay hóa học.

5Phân Hữu cơ (Organic Fertilizer)

Phân hữu cơ được hiểu là phân bón mà thành phần có chứa các-bon và một hay nhiều nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu với cây trồng khác ngoài oxi và hydro.

6Phân đơn (Straight Fertilizer)

Là phân bón trong đó chỉ có một nguyên tố dinh dưỡng đa lượng (đạm hoặc lân hoặc kali). Ở Mỹ khái niệm này có nghĩa khác hơn.

7Phân hỗn hợp (Mixed Fertilizer)

Thường được hiểu như là “Compound” sản xuất bằng cách trộn và không có phản ứng hóa học xảy ra (như NPK trộn).

8Phân hỗn hợp một hạt (Granulation Fertilizer)

Là phân được sản xuất bằng công nghệ vật lý (nghiền trộn – tạo hạt) để tạo nên các hạt phân đồng đều về thành phần và cỡ hạt (NPK, phân nén viên).

9Phân phức hợp (Complex Fertilizer)

Là sản phẩm tạo thành bằng cách hỗn hợp các thành phần và chúng có phản ứng hóa học xảy ra (như MAP, DAP).

10Phân đạm Urea (CO(NH2)2

Hàm lượng đạm 45-46%, dạng hạt trắng hay đục, dễ tan trong nước.

11Amon sunfat (NH4)2SO4

Amon sunfat (NH4)2SO4, (còn gọi SA). Hàm lượng đạm 21% dạng hạt, tinh thể, phân sinh lý chua. Lưu huỳnh 24%.

12Phân Amon nitrat (NH,NO3)

Hàm lượng đạm 35%, chứa NH4 và NO3, thích hợp cây trồng cạn.

13Phân lân Apatit (quặng)

Lân tổng số chiếm 26-33% dùng để sản xuất supe lân và lân nung chảy.

14Supe lân

Công thức hóa học là Ca(H PO4)2.H20, được sản xuất bằng cách dùng Acid Sunfuric 76% công phá quặng Apatit loại 1 (P205 tổng ≥ 32%) để chuyển từ dạng lân khó tan thành lân dễ tan. Supe lân thường hàm lượng từ: 16-18% P20 hữu hiệu. Supe lân có đặc tính tan được trong nước nên cây trồng dễ dàng hấp thụ.

15Mono Amonium Phosphate (NH4H2PO4 - MAP)

Hàm lượng đạm (N) chưa (10-12%), P205 chứa (50-62)%.

16Diamoni Phosphate (NH4)2HPO4 - DAP)

Hàm lượng đạm chưa 16-18%, P205 chứa 44-46%.

17Lân nung chảy (Fused Calcium Magnesium Phosphate - FMP)

Công thức chung: 4 (Ca, Mg)O.P20s + 5(Ca, Mg)O.P205.SiO2, được sản xuất bằng cách nung quặng Apatit với quặng Secpentin, quặng Sa thạch… ở nhiệt độ trên 1400°C và làm lạnh đột ngột. Phân lân nung chảy thường có hàm lương: 15 – 17% P20s hữu hiệu. Lân nung chảy không tan trong nước, tan trong môi trường chua nhẹ hay môi trường do rễ cây tiết ra.

18Kali clorua (KC1 - MOP)

Hàm lượng K20 chứa 55-62%, phân sinh lý chua.

19Kali sunfat (K2SO4 - SOP)

Hàm lượng K20 48-52%, lưu huỳnh 18%, là phân sinh lý chua.

20Phân bón lá

Khi phun lên lá là thể lỏng với nồng độ dung dịch thấp trong đó có các yếu tố đa lượng, trung lượng và vi lượng. Cây được sử dụng thông qua hệ thống hô hấp và điều nhiệt là lỗ khí khổng trên bề mặt lá.

Các câu hỏi thường gặp

1Phân bón là gì? tác dụng của những dưỡng chất có trong phân bón?

Phân bón là những hợp chất hóa học (có thể vô cơ hoặc hữu cơ), do con người sản xuất ra, dùng để bón cho cây trồng, giúp cây trồng khỏe, sinh trưởng, phát triển cân đối, cho năng suất cao hơn so với không bón.

Tác dụng của các loại dưỡng chất cơ bản đối với cây trồng như sau:

Trong đời sống của mình, cây trồng cần tối thiểu từ 13 đến 16 loại dưỡng chất khác nhau, gồm đạm (N); lân (P); kali (K); canxi (Ca); magiê (Mg); lưu huỳnh (S); silic (Si); clo (Cl); mangan (Mn); sắt (Fe); đồng (Cu); kẽm (Zn); bo (B); molipden (Mo); coban (Co); natri (Na) … Những cây một lá mầm như lúa, mía, bắp, tre nứa …cần nhiều silic trong khi các cây hai lá mầm (thân gỗ) thì ngược lại, cần rất ít. Những cây họ đậu cần nhiều molipden và coban, trong khi những cây khác thì gần như không. Các cây như dừa, sú, vẹt, đước, mắm … thì lại cần cho mình một lượng natri khá cao, trong khi cây lúa chỉ ở độ mặn 0,4% là sinh trưởng đã bị trở ngại.

Dưới đây là tác dụng của một số dưỡng chất cơ bản mà chúng ta thường gặp trong đời sống của cây trồng:

1/ Đạm (N):

Trong cây, đạm tham gia vào cấu trúc của chất sống (protein), chất di truyền (ADN; ARN), các acid amin… đặc biệt là tham gia vào thành phần, cấu trúc của diệp lục tố, chất có màu xanh lục, được ví như những “cỗ máy” có khả năng biến nước, khí CO2 và năng lượng ánh sáng thành chất hữu cơ ( đường, bột…) cho con người thu hoạch; vì vậy đạm là chất giúp cây sinh trưởng, phát triển nhanh và tạo nên năng suất chủ yếu cho cây trồng.

  • Cây sử dụng đạm dưới dạng các ion muối hòa tan có hóa trị 1 như: (NO3) và (NH4)*1
  • Khi thiếu đạm: Lá cây đang màu xanh lục chuyển về màu vàng lục rồi màu vàng theo trình tự từ lá già tới lá non, từ ngọn lá vào gốc lá. Mất màu xanh sẽ làm giảm khả năng quang hợp của cây, trực tiếp làm giảm năng suất và chất lượng nông sản.
  • Khi thừa đạm: Lá cây có xu hướng lớn nhưng mỏng, màu xanh tối, xanh đen, sự phát triển giữa thân, lá và bộ rễ có nguy cơ mất cân đối, làm giảm tính đề kháng của cây, là mồi ngon của các loài sâu, bệnh hại nên nguy cơ thất mùa rất cao.
  • Đối với phân đạm, nhà nông nên bón từ đủ tới hơi thiếu một chút là hợp lý. Để tránh hiện tượng thừa đạm, cách tốt nhất, dễ nhất là không nên bón phân đạm, nhất là urea một mình, mà nên bón đạm cùng lúc với các loại phân khác như lân, kali … hoặc bón các loại phân đa dưỡng chất như NPK; NPK +TE …

2/ Lân (P):

Trong cây, lân cũng tham gia vào cấu trúc của vật chất di truyền (AND, ARN), vào một số chất sống (protein), nhưng đặc biệt hơn lân tham gia vào thành phần và cấu trúc của các chất mang năng lượng trao đổi cao (ATP; UTP; GTP…); ATP được xem như nguồn cung ứng năng lượng cho toàn bộ các hoạt động sống trong cây, vì vậy lân được ví như “xăng, dầu của động cơ”, “bình ắc quy của xe điện”. So với đạm nhu cầu về lân của cây không lớn, trong mỗi tấn lúa cao sản và phần rơm rạ tương ứng có khoảng 22 kg nhưng chỉ có từ 7,1-8,1 kg lân (P2O5); mỗi tấn nhân cà phê chè arabica chứa 17 kg nhưng chỉ chứa 2,5 kg P2O5

  • Ở ngoài đất, lân dễ bị vi sinh vật và các nguyên tố phèn lấy mất, vì vậy tuy nhu cầu của cây về lân không cao nhưng ở vùng đất nhiều phèn, lân luôn dược sử dụng nhiều, đôi khi cao hơn cả đạm vì vừa phải bón để nuôi cây, vừa bón để cô lập phèn giúp cho bộ rễ cây phát triển. Lân được coi là loại dinh dưỡng làm tốt rễ và thúc đấy quá trình tạo cơ quan mới như nở bụi, ra hoa … đương nhiên lân cũng rất cần cho quang hợp và chuyển hóa. Được coi là nguồn năng lượng sinh hóa, lân có ảnh hưởng nhiều tới quá trình chuyển hóa các chất trong cây, nên có liên quan trực tiếp tới chất lượng nông sản.
  • Khi thiếu lân, quá trình chuyển hóa trong cây bị thiếu năng lượng, nên cây không tổng hợp được diệp lục tố; không đủ năng lượng để phát triển bộ rễ và càng không đủ để giúp cây lúa nở bụi, dẫn đến lá hẹp, không phát triển được lá mới; rễ kém phát triển, làm giảm khả năng ra hoa, trái; giảm khả năng tạo hạt; cuối cùng là giảm năng suất và chất lượng nông sản.
  • Khi thừa lân: Trên thực tế, đất nhiễm phèn ở đồng bằng sông Cửu Long và đất có độ pH thấp dưới 5 ở Tây Nguyên, do phèn nhiều, nên không thấy hiện tượng thừa lân mà chủ yếu ghi nhận các trường hợp thiếu lân. Tuy nhiên, nếu thừa lân sẽ làm quá trình hấp thu kẽm khó khăn hơn; thúc đẩy quá trình chín sớm, ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng quả, hạt.
  • Cây trồng sử dụng lân dưới dạng các ion muối hòa tan trong môi trường nước và acid yếu, đó là các gốc (HPO4)’ và (HPO4)? Để cung ứng các gốc lân trên cho cây, nhà nông có thể sử dụng phân supe lân, MAP là các loại lân hòa tan trong nước ở điều kiện bình thường hoặc dùng DAP là loại lân tan trong nước và trong môi trường acid yếu; trong môi trường chua, pH thấp dưới 4,5; nhà nông có thể dử dụng lân nung chảy, loại lân chậm tan, chỉ có hiệu quả với môi trường acid.

3/ Kali (K):

  • Kali không tham gia vào cấu trúc của cây, nhưng lại tham gia nhiều vào các chức năng sống trong cây, vì vậy gây ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng, phát triển của cây.
  • Kali hoạt hóa tối thiểu 60 loại enzym cần thiết cho sinh trưởng của cây; kali trung hòa những anion hữu cơ và các hợp chất khác trong cây, giúp cho pH trong cây ổn định từ 7-8, tối ưu cho các phản ứng của enzym.
  • Kali kích hoạt khí khổng trên bề mặt lá hoạt động; cây trồng lệ thuộc vào kali để điều hòa sự đóng, mở của khí khổng… những lỗ mà qua đó lá cây trao đổi khí CO2, hơi nước và khí O2 với khí quyển. Nhiệm vụ đích thực của khí khổng là cần thiết cho quang hợp, vận chuyển dinh dưỡng và nước, giữ mát cho cây. Nếu thiếu kali, các khí khổng trở nên chậm chạp, phản ứng chậm và hơi nước sẽ bị thất thoát; quá trình đóng có thể mất hàng giờ thay vì hàng phút và đóng không hoàn toàn. Kết quả là những cây thiếu kali thường rất mẫn cảm với các hiện tượng sốc do nước.
  • Việc tập trung kali ở rễ cây sẽ tạo ra một chênh lệch về áp suất thẩm thấu, khiến cho nước đi vào trong rễ cây; vì vậy cây trồng thiếu kali sẽ giảm khả năng hút nước và rất dễ bị sốc khi nguồn nước thiếu; như vậy kali là loại dưỡng chất làm tăng sức chịu hạn của cây.
  • Kali tăng cường quang hợp của cây thông qua việc kích hoạt khí khổng hoạt động và cân bằng điện tích ở những nơi sản sinh ra ATP.
  • Kali tăng cường quá trình vận chuyển đường, bột trong cây; hệ thống vận chuyển của cây sử dụng năng lượng ATP, nếu thiếu kali lượng ATP sẵn có sẽ ít đi và hệ thống vận chuyển ấy bị phá vỡ, làm cho đường, bột do lá sản xuất ra không về được nơi dự trữ, nên kali được xem là loại dưỡng chất tốt cho củ, quả và hạt.
  • Kali còn tăng cường quá trình vận chuyển dinh dưỡng và nước, tăng cường quá trình tổng hợp chất sống, tổng hợp tinh bột trong cây.
  • Ngoài ra, kali còn có tác dụng làm cây cứng, ít đổ ngã, làm cho sâu, bệnh hại không thích cây trồng, nên khi đủ kali cơ hội trúng mùa, trúng giá là rất lớn.
  • Cây trồng sử dụng kali dưới dạng ion muối hòa tan (K*) hoặc phức K-Chelate.

Cũng như đạm, kali được cây hấp thụ và chuyển hóa rất nhanh, chỉ sau vài ngày là có
biểu hiện ra bên ngoài.

  • Khi thừa kali, cũng sẽ có ảnh hưởng tới quá trình hấp thu một vài loại dinh dưỡng khác của cây như canxi, magiê; tuy nhiên thực tế chưa ghi nhận trường hợp nào bị thiệt hại do bón thừa kali.
  • Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, đất phù sa, với hàm lượng kali khá cao nên mặc dù nhu cầu kali rất cao (31,6 kg K20 cho mỗi tấn lúa hạt và phần rơm rạ tương ứng), song thực tế sử dụng của nông dân lại không cao như lân, chỉ khoảng 40kg, cao lắm là 60kg K20/ha mỗi vụ. Đất Tây Nguyên luôn được xem là thiều kali do đá mẹ Bazan không chứa kali, do không có phù sa và luôn bị rửa trôi bởi địa hình cao và dốc.

4/ Canxi (Ca):

Cấu trúc của tế bào thực vật có phần vỏ, canxi tham gia vào cấu trúc của lớp vỏ ngoài dưới dạng Pectatcanxi, chất giống như lớp vữa để gắn kết các đại phân tử cellulose lại với nhau tạo nên một lớp vỏ chắc chắn, vừa bền lại vừa có khả năng đàn hồi; vì vậy canxi có tác dụng tốt cho vỏ (vách) tế bào. Canxi còn có tác dụng điều tiết quá trình vận chuyển đường, bột từ lá về cơ quan dự trữ của cây. Một số quan điểm mới đây cho rằng canxi còn tham gia vào việc điều hòa thứ cấp quá trình sinh trưởng của cây. Mỗi tấn lúa cao sản và phần rơm ra tương ứng chứa đựng trong chúng 3,94 kg CaO; mỗi tấn nhân cà phê arabica chứa 3,9 kg CaO.

  • Ở ngoài đất, ion canxi (Cat3) tham gia vào quá trình cân bằng pH đất, vì vậy trên các nền đất chua, có độ pH thấp, người ta thường dùng vôi (CaO) để nâng cao độ pH theo yêu cầu.
  • Khi thiếu canxi, vỏ tế bào phát triển không hoàn thiện, ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và phát triển tế bào, ảnh hưởng xấu tới quá trình hấp thu boron và quá trình hoàn thiện màng sinh chất của tế bào; thể hiện ở việc làm bộ rễ chậm phát triển, lá sinh trưởng kém, nhất là các lá ở giai đoạn non; thiếu canxi còn ảnh hưởng tới quá trình tích lũy đường, bột và quá trình điều hòa sinh trưởng trong cây.
  • Khi thừa canxi cũng có ảnh hưởng làm ức chế việc hấp thụ một số dưỡng chất khác của cây như Mg và K.
  • Cây trồng hấp thụ canxi dưới dạng ion hóa trị 2 (Ca3) của các muối, các bazơ hòa tan như CaClz; Ca(OH)2 – trong vôi tôi; Ca(H2PO4)2- trong supe lân. Ở trạng thái hóa trị 3 (Cat3) dưới dạng quặng apatit, phosphorít, trong đá vôi … cây trồng, nhất là các cây có bộ rễ yếu, không thể huy động được canxi.

5/ Magiê (Mg):

Trong cấu trúc của tế bào thực vật, vai trò quan trọng nhất của magiê là tham gia vào thành phần chính của diệp lục tố; trong các nguyên tố dinh dưỡng thì duy nhất chỉ có đạm (N) và magiê (Mg) là tham gia vào thành phần, cấu trúc của diệp lục tố, những cỗ máy quang hợp, giúp cây có thể biến nước (H,0), không khí (CO2) và năng lượng ánh sáng thành đường, bột (CHO), cho chúng ta thu hoạch. Mỗi tấn lúa cao sản và phần rơm rạ tương ứng chứa 4,0 kg Mg0; mỗi tấn hạt cà phê arabica chứa 2,6 kg MgO.

  • Ở ngoài đất, cũng như canxi, các ion magiê (Mgt) cũng tham gia vào quá trình cân bằng pH đất. Phân lân nung chảy ưu điểm hơn super lân ở chỗ ngoài việc chứa đựng hàm lượng lân (dạng chỉ hòa tan trong môi trường acid), còn chứa đựng hai loại dưỡng chất quan trọng là can xi và magiê dưới dạng CaO dễ hòa tan trong nước cho cây hấp thụ và cân bằng pH đất.
  • Khi thiếu magiê, lá cây sẽ từ màu xanh lục chuyển sang vàng lục rồi sang màu vàng theo hướng từ bìa lá vào trong gân lá, làm giảm khả năng quang hợp, chức năng số một của cây, ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng.
  • Khi thừa magiê, cũng như canxi, sẽ ảnh hưởng tới việc hấp thu một số dưỡng chất khác.
  • Cây trồng hấp thụ magiê dưới dạng ion hóa trị 2 (Mg*) có trong lân nung chảy (MgO), trong muối MgCl khi hòa tan [Mg(OH)2: Mg** + 2 (OH)]; [MgCl2: Mg** + 2CI]

Cũng như canxi, dưới dạng muối sulfat (dạng kết tủa), cây trồng có bộ rễ yếu (khả năng tiết acid ở đầu rễ kém) sẽ khó huy động magiê; vì vậy để bổ sung canxi và magiê, người ta thường sử dụng các chế phẩm phân bón lá có chứa can xi và magiê dưới dạng chelate, một dạng dễ tiêu giúp cây có thể sử dụng trực tiếp.

6/ Lưu huỳnh (S):

Trong cây, lưu huỳnh (S) tham gia vào thành phần, cấu trúc của một số acid amin như methionin, xistein, xistin bằng liên kết disulfit (- s – s -) để tạo nên cấu trúc bậc ba (cấu trúc không gian) của chất sống (protein), làm tăng hoạt tính sinh học của protein như tính xúc tác của các enzym sinh học trong quá trình hoạt động sống của cây. Như vậy lưu huỳnh gián tiếp làm tăng hoạt tính xúc tác của các enzym sinh học trong cây, giúp cây sinh trưởng, phát triển bình thường. Những cây trồng có mùi vị đặc trưng như sầu riêng, hành, tỏi và những loại cây kỵ gốc chor như thuốc lá, khoai tây, khoai lang và một số cây ăn trái khác thì việc sử dụng phân có gốc sulfat là điều cần thiết để tăng chất lượng nông sản. Mỗi tấn lúa cao sản và phần rơm rạ tương ứng chứa 0,94 kg S; mỗi tần hạt cà phê arabica chứa 1,3 kg S.

  • Ở ngoài đất, lưu huỳnh tồn tại dưới dạng (SO4)?, đây là dạng mà cây trồng có thể hấp thu trực tiếp. Ion (SO4) có nhiều trong các loại muối hòa tan chứa trong các loại phân bón như phân SA [ (NH4)2SO4] chứa 20-21% đạm và 24% lưu huỳnh; phân kalisulfat (K2SO4) chứa khoảng 50-54% K20 và khoảng 16-18% S.
  • Khi thiếu lưu huỳnh, sẽ ảnh hưởng xấu tới cấu trúc không gian của protein, làm giảm lượng protein trong cây, nhất là các protein enzyme, làm giảm hoạt tính xúc tác sinh học của enzyme, làm chậm các quá trình sinh học trong cây, cuối cùng làm cây sinh trưởng, phát triển chậm, năng suất và chất lượng nông sản giảm sút.
  • Thừa lưu huỳnh sẽ làm chua hóa và gia tăng quá trình bạc màu của đất.
  • Khuyến cáo sử dụng: Gốc SO4 là một gốc của acid mạnh nên luôn có khả năng làm chua hóa đất và đốt cháy chất hữu cơ trong đất làm đất mau bạc màu; vì vậy khi sử dụng lưu ý không nên lạm dụng lưu huỳnh; tùy vùng thổ nhưỡng hiện nay các nhà khoa học khuyến cáo chỉ nên sử dụng phân bón chứa từ 4-8% S thay vì 13% như trước.

7/ Kẽm (Zn):

Kẽm là dưỡng chất vi lượng, cây cần ít, mỗi tấn lúa cao sản và rơm rạ kèm theo chỉ chứa 40g kẽm, mỗi tấn nhân cà phê arabica chứa 12,2g; nhưng kẽm tham gia nhiều vào các hoạt động sinh lý, sinh hóa của cây, cụ thể:

  • Kẽm là thành phần và kích hoạt nhiều loại enzyme sinh học;
  • Kẽm có vai trò trong tổng hơp auxine (IAA ):
  • Kẽm có ảnh hưởng tới quá trình trao đổi protein: Zn là thành phần của enzyme RNA polymerase, là thành phần cấu trúc của ribosome và rất cần thiết cho sự hoàn thiện cấu trúc của chúng.
  • Vì kẽm ở dạng bât động trong cây nên triệu chứng thiêu hụt kẽm biểu hiện chủ yếu ở những bộ phận mới sinh trưởng; triệu chứng rõ nhất của sự thiếu hụt kẽm là các lóng thân, cành ngăn và kích thước lá bị suy giảm. Sự thiêu hụt kẽm thường thây khi thời tiết lạnh, ẩm.
  • Sự hấp thụ kẽm của cây bị giảm khi pH tăng lên và tỷ lệ nghịch với hàm lượng lân và sắt hữu hiệu có trong đất.
  • Cây trồng sử dụng kẽm dưới dạng ion hóa trị 2 (Znt3) của các muối hòa tan hoặc dạng Zn-Chelate; tuy nhiên hiệu ứng nhất vẫn là dạng Zn-Chelate thường có trong phân bón lá Yoghen và phân bón gốc của Phân bón Miền Nam và những hãng phân có uy tín khác.
  • Kẽm là vi chất dinh dưỡng, lượng sử dụng rất ít, nên khi sử dụng không được tùy tiện, không sử dụng nhiều như phân trung và đa lượng sẽ dễ bị ngộ độc do dư thừa.

8/ Boron (B):

Boron là dưỡng chất vi lượng, cây cần ít hơn cả kẽm, mỗi tấn lúa cao sản và rơm rạ kèm theo chỉ chứa 32g, mỗi tấn nhân cà phê arabica chứa 13,6g; nhưng boron cũng tham gia nhiều vào cấu trúc tế bào và các hoạt động sinh lý, sinh hóa của cây, cụ thể:

  • Tham gia vào cầu trúc của vách tế bào: Có tới hơn 90% lượng B tập trung ở vách tế bào; chúng tồn tại dưới dạng este bo-rat. Cơ chế liên kết chéo tạo polymer của vách tế bào đã giúp cho sự ổn định cấu trúc của vỏ tế bào.
  • Tăng khả năng trao đổi chất và vận chuyển đường, bột; khi thiếu hụt boron sẽ làm suy giảm khả năng chuyển hóa và vận chuyển đường, bột.
  • Trong phát triển các cơ quan sinh sản: Boron có vai trò quan trọng trong việc nảy mầm của hạt phấn và sự sinh trưởng của ống phấn nhờ vào ảnh hưởng quan trọng của B lên sự tổng hợp vỏ tế bào và tính nguyên vẹn của màng sinh chất.

Triệu chứng của sự thiếu hụt boron trong cây:

  • Trước tiên, làm chậm hoặc rối loạn sự sinh trưởng của các điểm sinh trưởng ngọn của thân chính rồi lan sang các ngọn cành; tiếp theo các đỉnh sinh trưởng ngọn bị chết. Điển hình thường thấy trên các cây thuộc họ cải như thối lõi ở cây củ cải đường, ruột biến màu nâu ở củ cải, hiện tượng nứt thân ở cây cần tây, hiện tượng teo ngọn ở thuốc lá, hiện tượng xơ hóa hoặc ruột bị biến màu nâu trên táo và hiện tượng thoái hóa hoa, quả, hạt v.v…
  • Nặng hơn sẽ làm các lá bị quăn và ngả màu sang xanh bạc và có xu hướng ngả sang màu vàng. Ngoài các dưỡng chất cơ bản trên đây, tùy theo mục đích sử dụng cho vùng đất cụ thế, loại cây khác nhau mà nhà sản xuất phân bón có thể đưa thêm các chất khác như: Sắt (Fe) thường được đưa vào các loại phân sử dụng cho khu vực đất có độ pH trung tính đến kiềm; molipden và coban được đưa vào phân bón chuyên dùng cho các cây họ đậu..

2Thế nào là phân bón tốt? cho ví dụ một vài loại phân bón tốt đối với cây lúa ở đồng bằng sông Cửu Long?

Như chúng ta đã biết, cây trông cùng lúc sử dụng nhiêu loại dưỡng chất khác nhau, từ đa lượng, trung lượng tới vi lượng và siêu vi lượng; tuy nhiên trong đất luôn chứa đựng nhiều loại dưỡng chất, tùy nguồn gốc đá mẹ, điều kiện tự nhiên (phong hóa, vũ hóa) và sự chăm bón của con người…đã tạo ra nhiều loại đất với những đặc điểm về dinh dưỡng khác nhau. Đất cát bạc màu thì dưỡng chất nào cũng thiếu; đất đen trên bọt bazan thì giàu đạm, giàu lân và thiếu kali nhưng không nhiều; đất đỏ bazan ít dốc thường thiếu kali; đất đỏ bazan độ dốc cao thì thiếu cả đạm, lân và kali; đất phù sa có lũ thì giàu kali, nhưng đất phù sa trong đê bao không có lũ, thiếu phù sa, thì lại thiếu nhiều kali…

Một khái niệm tương đối về phân bón tốt được đưa ra nhằm thỏa mãn cơ bản những yêu cầu sử dụng như sau: “Phân bón tốt là phân chứa trong chúng cùng lúc nhiều loại dưỡng chất, thứ mà cây cân nhưng trong đất thiều; là phân chứa đủ hàm lượng dưỡng chất như đã ghi trên bao bì; và là phân phù hợp với điêu kiện canh tác của nhà nông”

Theo khái niệm trên, đối với đất đồng bằng nhiều phèn sắt mà trong phân NPK 20-20-15 +TE (sắt) thì phận đó sẽ không tôt băng phân NPK 20-20-15 cùng ham lượng không có TE; đối với đất đỏ Tây Nguyên (thừa đông) thì phân NPK 20-20-15 tốt hơn so với phân NPK 20-20-15 cùng hàm lượng cộng thêm TE (đồng). Phân có hàm lượng ghi trên bao bì là NPK 20-20-15, nhưng trong ruột chỉ chứa 85% mỗi loại sẽ không tốt bằng phân trên bao bì chỉ ghi NPK 18-18- 14 nhưng trong ruột khi phân tích lại chứa đủ 100% mỗi loại. Phân kali miểng tốt hơn so với phân kali bột nếu bón cho lúa khi trên ruộng đã có cây lúa.

Dưới đây là một số loại phân tốt cho lúa ở đồng bằng sông Cửu Long:

  • Phân NPK 20-20-15 + TE (B; Zn), dạng trộn 3 màu;
  • Phân NPK 25-25-5 +TE, đạng trộn 3 màu;
  • Phân NPK 16-16-8 +TE; dạng trộn và dạng một hạt;
  • Phân chuyên dùng Bông Lúa Bozinc Nở bụi, dạng một hạt;
  • Phân chuyên dùng K hay RI-VL, R2FVL, KoTVL;
  • Phân chuyên dùng Bông Lúa BoZinc Năng suất vàng, dạng một hạt:
  • Phân NAP Eco …

3Để có phân bón tốt, nhà sản xuất cần có những điều kiện gì?

Để có phân bón tốt, nhà sản xuất cần hội tụ các điểm sau:

  • Trước hết phải có hiểu biết sâu sắc về phân bón, hiểu tác dụng của từng loại dưỡng chất trong phân bón.
  • Hiểu được đối tượng cây trồng mà sản phẩm của mình hướng tới.
  • Hiểu được tính chất lý hóa của vùng đất mà phân bón sẽ được sử dụng.
  • Đặc biệt phải có công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý tiên tiến, hệ thống quản lý của doanh nghiệp phải đạt chuẩn chất lượng cao (nhất là hệ thống quản trị chất lượng ).

4Công nghệ sản xuất nào được xem là tiên tiến trong sản xuất NPK hiện nay? làm sao để biết được hệ thống quản trị chất lượng của một doanh nghiệp là tốt, đạt chuẩn?

Trong các loại công nghệ sản xuất phân NPK, công nghệ hóa học là tiên tiến nhất, tuy nhiên do đầu tư cao nên ở Việt Nam hiện nay chỉ có các nhà máy Đình Vũ (Hải Phòng) và Lào Cai là sản xuất được bằng công nghệ hóa học cho ra sản phẩm NP (DAP) còn NPK thì chưa có công nghệ Hóa học ở Việt Nam.

Ở Việt Nam, sản xuất ra NPK hiện nay chỉ có công nghệ tạo hạt bằng Hơi nước thùng quay, kết hợp urea hóa lỏng là tiên tiến nhất; các công nghệ này hiện có ở Phân bón Miền Nam; Phân bón Bình Điền; Phân bón Việt Nhật; Phân bón Năm Sao và một số ít nhà máy khác.

Các đơn vị sản xuất phân NPK nhỏ, lẻ chủ yếu dùng công nghệ đĩa quay để tạo viên bán thành phẩm rồi trộn thành sản phẩm 3 màu bán cho nông dân; các sản phẩm một hạt viên tròn của họ thường không bảo đảm chất lượng, nhất là sản phẩm có hàm lượng từ 35 đơn vị dưỡng chất trở lên; hạn chế của công nghệ đĩa quay chủ yếu ở cơ chế tạo hạt, làm hàm lượng không đạt nên chất lượng sản phẩm không thể đạt yêu cầu.

Để biết hệ thống quản trị chất lượng của một doanh nghiệp tốt có thể nhân đinh như sau:

  • Bề ngoài ta phân biệt bằng phòng thí nghiệm của họ, có hay không? Phân tích được bao nhiêu chất ? Nếu làm ăn chuyên nghiệp, có quản trị tốt thì phải có phòng thí nghiệm (sau 3 giờ là có kết quả phân tích 3 chất N, P, K và Hữu cơ), sau 3 ngày có kết quả phân tích S, Ca và Mg; sau 5 ngày có kết quả phân tích TE. Nếu nhà sản xuất mà không có phòng thí nghiệm thì không thê được gọi là quản trị chất lượng tốt.
  • Sau hơn nữa ta tìm hiểu xem chất lượng hệ thông quản lý của họ ớ mức nào? Với sản xuất phân bón, chất lượng ở mức ISO 9001: 2008 là chấp nhận được; ISO 14000 thì càng tốt; còn dưới đó đều không đạt yêu cầu. Phân bón Miền Nam đạt chuẩn ISO 9001-2008; ISO 9001-2015.

5Sử dụng phân bón cho cây trồng như thế nào được gọi là phù hợp với thời gian sinh trưởng của cây?

Sử dụng phân bón được gọi là phù hợp với thời gian sinh trưởng của cây khi lượng phân chúng ta cung cấp cho cây và lượng phân đất có khả năng phóng thích cho cây trong từng thời kỳ sinh trưởng ở mức vừa đủ là hợp lý; không nên bón thừa, nhất là phân đạm.

Ví dụ: Để nuôi 01 ha lúa ở giai đoạn từ khi mới gieo sạ tới khi cây bắt đầu nở bụi đối với đất Đồng Bằng Sông Cửu Long, thường phải bón thêm 25-30kg N; 23-35kg P20s và khoảng 8-10kg K20. Khi sang giai đoạn nở bụi lượng bón thường phải nâng lên gấp hai so với giai đoạn trước mới nuôi đủ cho cây mẹ và 4-6 cây con. Tuy nhiên, khi cây bắt đầu có đòng (tim đèn) thì hàm lượng đạm giảm xuống còn 20-23; lân giảm tối đa, thường là 3-8 (đất phèn), còn lượng kali thì tăng lên, bằng hoặc lớn hơn lượng đạm, (20-25). Cả 3 giai đoạn chúng ta cân đối khoảng ( 80-105 N ); (50-70 P20s) và (45-65 K20), tùy theo vùng đất và mùa vụ mà điều chỉnh. Nếu chúng ta sử dụng chỉ có DẠP và urea bón cho lần ba (cây có đòng) là sai; nếu lần đầu chúng ta bón ít lân, kali lại nhiều hơn đạm là sai hoặc chỉ bón đạm không cũng là sai.

Nhìn chung cây trông nào cũng vậy, lượng đạm và lân thường phải nặng đầu, nhẹ cuối còn lượng kali thì nhẹ đầu nặng cuối là phù hợp. Căn cứ vào công thức phân bón để chúng ta tính ra lượng bón cho mỗi loại.

6Cây trồng hấp thu dưỡng chất bằng những cách nào, phân biệt cách nào là chính, cách nào là phụ? cùng lúc mà sử dụng tất cả các cách có tốt không? Tại sao?

Cây trồng có thể hấp thu dưỡng chất bằng hai cách:

  • Cách 1: Cây “ăn” dưỡng chất bằng bộ rễ của mình, đây là cách chính. Một bộ rễ có hàng tỷ lông hút (miệng của cây), chúng nằm ngay vùng kế với cổ rễ (phía trong); bằng áp lực thẩm thấu (chủ yếu do ion kali tạo ra) hoặc bằng cơ chế chủ động (có sử dụng chất mang chứa ATP), những cái miệng (lông hút) này hấp thụ các ion dưỡng chất và đưa lên lá nuôi cây.
  • Cách 2: Cây hấp thụ dưỡng chất thông qua các lỗ khí khổng, có trên bề mặt lá cây, khi chúng mở ra. Cây một lá mầm (như lúa mỗi inch’ mặt trên chứa 33 lỗ; mỗi inch? Mặt dưới chứa 14 lỗ; cây bắp mỗi inch’ mặt trên chứa 52 lỗ, mỗi inch mặt dưới chứa 68 lỗ); cây hai lá mầm (như cây ăn trái), lỗ khí khổng tập trung chủ yếu ở mặt dưới. Lỗ khí không chỉ mở ra khi trời mát, vì vậy giữa trưa năng không thế cho cây ăn bằng cách này được vì khi đó lỗ bị đóng lại.

Đây là cách phụ và cây ăn băng cách này không được bao nhiêu vì cơ chế hấp thụ dưỡng chất qua lô khí không chủ yêu là cơ chê thâm thấu ngược (ngược chiều với dòng nước thoát ra ngoài khi lỗ mở ra còn dưỡng chất lại đi vào trong); mặt khác do lượng dinh dưỡng không thê pha với nông độ quá 2% (thường chỉ 1-1,5%) nên lượng dinh dưỡng an bằng cách này rất ít. Một hạn chế nữa của cách này là khi sử dụng chất điều hòa sinh trưởng lá cây dễ phát triển quá mức đến độ hấp dẫn sâu bọ, côn trùng gây bệnh. Tuy nhiên ưu điểm của cách này là cây sử dụng và có hiệu ứng nhanh; nếu như cây bị úng nhiều ngày, hoặc khô hạn mà kết hợp vừa tưới vừa bổ sung dưỡng chất bằng cách này khi bộ rễ không có khả năng hấp thu dinh dưỡng thì thông qua sự hấp thu dinh dưỡng này đáp ứng được nhu cầu.

Điều chú ý nữa là khi kết hợp phân qua lá với thuốc trừ sâu, bệnh phải xem rõ khả năng phối hợp có được thì mới dùng; nếu không được thì không nên pha chung.

7Phân biệt cây khỏe, cây yếu? Bón phân thế nào để cây luôn khỏe?

Cây khỏe và cây yếu là hai trạng thái hoàn toàn khác nhau của cây trồng, nó chỉ ra mức độ phát triển cân đối, mức độ chịu đựng (sâu, bệnh, điều kiện bất lợi khác) của cây trồng.

Cây khỏe là cây phát triển cân đối, ít sâu bệnh có khả năng cho năng suất cao, chất lượng nông sản tốt. Ngược lại cây yếu là cây phát triển không cân đối, khả năng cho năng suất thấp, khả năng chịu đựng kém và khả năng cho chất lượng nông sản thấp ví dụ:

  • Cây lúa khỏe:
    • Có bộ lá dày, lớn vừa phải;
    • Lá có màu xanh sáng; màu xanh bền lâu (tới lúc thu hoạch);
    • Cây cứng, ít đổ ngã, rơm rạ chắc;
    • Là cây mà sâu chê, bệnh ghét;
    • Chắc chắn nhà nông trúng mùa.
  • Cây lúa yếu:
    • Có bộ lá lớn và mỏng;
    • Lá có màu xanh tối, xanh đen; màu xanh mau tàn (lúc thu hoạch lá thường bị khô);
    • Cây mềm yếu, dễ đổ, rơm rạ không chắc;
    • Là cây mà sâu thèm, bệnh thích;
    • Nhà nông dễ bị thất mùa.

Cây khỏe hay yếu lệ thuộc gần như hoàn toàn vào chế độ chăm sóc của nông dân, đặc biệt là lệ thuộc nhiều vào chế độ bón phân, nhất là phân đạm (N).

Muốn cây khỏe, cân đối thì sử dụng phân bón phải cân đối, không được lạm dụng phân đạm (N); muốn làm được điều này cách tốt nhất và dễ nhất là không nên bón phân đạm một mình, nhất là urea (phân lạnh), mà nên bón đạm cùng lúc với các loại phân khác như lân (P) và kali (K) vì trong phân urea hàm lượng đạm rất cao (46%), nếu sử dụng một mình dễ bị quá mức. Cách hiệu quả nhất là sử dụng các loại phân NPK, đặc biệt là phân chuyên dùng, có sẵn của những nhà máy uy tín như Hiệp Phước, Cửu Long, Bình Điền…

8Quy trình bón phân cho cây lúa ở đồng bằng sông Cửu Long?

Nếu nói quy trình thì phải mang tính cụ thế, đối với từng giống cụ thể, trên chân đất cụ thể, trong điều kiện mùa vụ cụ thế, chứ không thể có quy trình chung cho mọi mùa vụ và mọi loại đất được. Tuy nhiên, chế độ phân bón cho cây lúa cao sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có thể khái quát qua 3 giai đoạn bón cho 01 ha như sau:

  1. Lần bón thứ nhất, khi cây còn nhỏ, cây mạ, thời điểm sau khi gieo sạ 7-10 ngày; lần này bón 25-30 kg N; 23-35 kg P20s và 8-10 kg K20; Cụ thể cho mỗi ha chúng ta bón:
    • Phân DAP Bozinc: 35-50 kg;
    • Bông Lúa Bozinc Nở bụi (NPK 19-13-9 +TE): 100-125 kg.
  2. Lần bón thứ hai, khi cây lúa bắt đầu đẻ nhánh (nở bụi), thời điểm cây lúa được 20-25 ngày; lần này bón 38-48 kg N; 25-35 kg P20s và 18-25 kg K20; Cụ thể mỗi ha ở lần hai bón:
    • 200-250 kg Bông Lúa Bozinc Nở bụi (NPK 19-13-9 +TE).
  3. Lần bón thứ ba, khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng (chớm có tim đèn), thời điểm cây lúa được 40-45 ngày tuổi; lần này bón 17-22 kg N; 3-5 kg P20s và 19-23 kg K20; Cụ thể mỗi ha ở lần ba bón:
    • 100-150 kg Bông Lúa BoZinc Năng Suất Vàng (NPK 17-3-19 + TE).

Tổng cả 3 lần chúng ta sử dụng: 80-100 kg N; 55-70 kg P20s và 45-65 kg K20. Nếu sử dụng các loại phân có công thức khác thì từ đó tính ra lượng bón ở mỗi lần bón khác nhau, giống như cách tính nêu trên. Ngoài ra, tùy theo vùng đất và mùa vụ chúng ta có thể sử dụng bộ chuyên dùng cho lúa L1 997, L2 998; L3 999 hay R1, R2, R3 .v.v…

Lưu ý: đối với Đông Xuân sau lũ hoặc Hè thu sớm sau nhiều tháng đất nghỉ thì sử dụng mức thấp, còn đối với Hè Thu hoặc Đông Xuân liền kề không có thời gian để đất nghỉ thì sử dụng mức bón cao hơn.

9Giữa phân bón một hạt và phân ba màu cùng hàm lượng của Phân bón Miền Nam thì nên vận dụng bón như thế nào?

Đối với phân bón Miền Nam, nếu sản phẩm là phân đa màu hoặc phân một hạt được tạo bằng Công nghệ Hơi nước Thùng quay đều rất phù hợp để bón cho cả cây trồng cạn (vì khả năng tan nhanh) lẫn lúa nước; còn loại phân trộn ba màu thông thường (được trộn từ DAP; Urea; Kali) có cùng hàm lượng (N, P, K) như NPK 16-16-8, 20-20-15…; những sản phẩm ba màu này bón cho cây lúa nước sẽ phù hợp hơn, bởi vì về tỉ trọng và cấp độ hạt của loại phân ba màu này không có độ đồng đều cao như phân một hạt. Tỉ trọng cũng như cấp độ hạt của sản phẩm tạo ra từ Công nghệ hơi nước thùng quaymức độ đồng đều rất cao. Phân một hạt (hay đa màu) sử dụng có tính phổ rộng hơn phân ba màu. Các sản phẩm đa màu của Công ty Phân bón Miền Nam như NPK 16-5-20+TE; NPK 17-7-17+TE, NPK 17-5-19+TE, NPK 18-5-18+TE…

Khuyến cáo nên sử dụng phân ba màu để bón cho cây lúa nước hiệu quả cao hơn bón cho cây trồng cạn; phân một hạt (hay đa màu) có thể sử dụng được cho nhiều loại hình đất với cây trồng cạn và cả cây lúa nước.

10Về chủng loại phân NPK bón gốc, Công ty Cổ phần Phân bón Miền Nam hiện nay có những loại nào? Đặc tính kỹ thuật của chúng là gì và sử dụng chúng ra sao?

Nếu nói về số lượng, hiện nay Công ty có 199 loại phân bón bón gốc khác nhau, trong đó chủ yếu là dạng bón gốc NPK; tuy nhiên để hiểu và dễ sử dụng nhóm sản phẩm này, chúng ta phải phân chia chúng thành từng nhóm thích ứng với từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây trồng; vì vậy 199 loại nhưng chúng nằm trong 4 nhóm chính, cụ thể là:

  • Nhóm trung dung: có hàm lượng N, P, K cơ bản bằng hoặc gần bằng nhau; điển hình của nhóm này là các sản phẩm NPK NPK 13-13-13(+TE); NPK 14-14-14 (+TE); NPK 15-15-15 (+TE); hoặc NPK 20-20-15 (+TE) và những sản phẩm có cấu trúc tương tự. Đặc điểm của nhóm này là bón cho giai đoạn nào của cây cũng được, chỉ cần điều chỉnh phụ thêm một lượng phân khác (không nhiêu); ví dụ: sản phầm NPK 15-15-15 khi bón giai đoạn cây sinh trưởng thân, lá thì thêm urea (15% urea + 85% NPK ); đến giai đoạn thúc ra bông thì giữ nguyên 100% NPK để bón; đến giai đoạn nuôi trái, nuôi hạt thì thêm KC1 (15% KC1 + 85% NPK ). Như vậy đối với nhóm này cây trồng nào cũng có thể sử dụng được.
  • Nhóm sản phẩm có hàm lượng đạm cao, lân cao, Kali vừa phải: chỉ dùng để bón cho giai đoạn cây sinh trưởng thân, lá và nở bụi; chúng thường có hàm lượng đạm (N) > 16%; hàm lượng lân (P205) ≥ 11% và hàm lượng Kali (K20) ≥ 5%. Điên hình của nhóm này là các sản phẩm NPK 16-16-8 (+TE); NPK 18-12-8 (+TE); NPK 25-25-5 (+TE)…
  • Nhóm sản phẩm có hàm lượng đạm thấp; lân cao, Kali cao hoặc rất cao: Chỉ dùng để bón cho cây ở giai đoạn thúc cho ra nụ, hoa và nuôi trái (đối với các cây họ đậu, không cần đạm giai đoạn cuối). Sản phẩm điển hình của nhóm này là: NPK 15-15-20 (+TE); NPK 12-12-17 (+TE); NPK 12-8-18 (+TE); NPK 10-14-14 (+TE); NPK 8-14-12 (+TE);… Nhóm sản phẩm này không có nhiều trên thị trường
  • Nhóm sản phẩm có hàm lượng đạm vừa phải, Lân ít và Kali cao hoặc rất cao: Sử dụng để bón cho cây ở giai đoạn từ khi phân hóa mầm hoa trở về sau. Điển hình của nhóm này gồm các sản phẩm: NPK 16-8-16 (+TE); NPK 16-8-18 (+TE); NPK 17-7-17 (+TE); NPK 15-9-13 (+TE)… Nếu đất không có hoặc ít phèn mà lại được bón lót đủ lân (supe lân lượng 300kg/ha) thì ngay ở giai đoạn cây sinh trưởng thân, lá hoặc nở bụi có thể sử dụng các sản phẩm NPK của nhóm này. Ví dụ, với lúa trên đất phù sa ít phèn ở vụ Đông Xuân vừa qua lũ, sau khi bón lót supe lân 300kg/ha, thì ngay ở lần bón thúc thứ nhất (sau sạ 7-10 ngày) chúng ta có thể bón 100-125 kg NPK 17-7-17 (+TE)/ha; khi lúa 20-25 ngày tiếp tục bón 200-250 kg NPK 17-7-17 (+TE); khi lúa bắt đầu phân hóa đòng (sau sạ 40-45 ngày) chúng ta tiếp tục bón 100-150 kg NPK 17-7-17 (+TE) thì hiệu quả vẫn rất cao.