Phân bón Miền Nam và kỹ thuật canh tác cây khoai lang (Tiếp theo và hết)

 Lê Minh Giang  09-08-2021  33 Lượt xem

3.2. Sâu hại khoai lang (tiếp theo)…

3.2.1. Sâu đục thân (dây, củ)

– Sâu non nhỏ tuổi có màu đỏ nhạt sau đó dần chuyển sang màu kem với nhiều chấm đen trên mình. Sâu đẫy sức có chiều dài 30mm. Nhộng màu nâu đỏ nằm tại vị trí đường đục của thân.

– Bướm hoạt động vào thời điểm ban đêm, đẻ trứng rải rác tại vị trí mặt dưới lá hay trên dây khoai lang. Con cái đẻ từ 150 đến 300 trứng.

– Sâu non đục vào trong dây khoai lang tại vị trí gần gốc đi lên phía trên tạo thành 1 đường hầm sau đó đùn phân màu nâu đen xuống khắp gốc cây. Cây phát triển kém và lâu có thể chết. Bị hại vào giai đoạn thời kỳ phát triển sẽ ức chế sự hình thành củ.

   

3.2.2. Sâu gập lá (cuốn lá)

Bướm nhỏ, chiều dài của thân là 10mm, màu nâu, có nhiều vệt đen trên cánh. Trứng nhỏ hình dạng ovan, có màu sắc vàng nhạt. Sâu non trên bụng và ngực có nhiều vệt đen trắng nổi bật, đẫy sức dài khoảng 15mm.

Bướm hoạt động vào thời điểm ban đêm, đẻ trứng đơn lẻ từng quả trên những lá non.

Sâu non nhả tơ gấp mép lá lại là thành tổ, chúng nằm trong đó và ăn chất xanh để lại lớp biểu bì lá trắng mỏng cùng với gân lá còn xanh giống với viền đăng ten. Hầu hết mỗi lá bị cuốn chỉ có 1 sâu non. Sâu sẽ hóa nhộng trong tổ.

Vòng đời: Dao động từ 22 đến 30 ngày, trong đó tuổi thọ của trứng từ 3 đến 5ngày; Sâu non từ 11 tới 13 ngày; Nhộng từ 4 cho tới 7 ngày; Bướm sống và đẻ trứng tỏng khoảng 4 đến 5 ngày.

3.2.3. Ngài trưởng thành (Bướm); Sâu đục dây:

Bướm có độ lớn tương đối nhỏ, thân dài chừng 15mm, đầu và thân có màu đỏ, cánh nâu nhạt chứa nhiều đốm trắng.

Sâu non nhỏ tuổi đỏ nhạt rồi dần chuyển sang màu kem chứa nhiều chấm đen trên mình. Sâu đẫy sức có chiều dài khoảng 30mm. Nhộng có màu nâu đỏ trong đuờng đục.

Bướm hoạt động vào thời điểm ban đêm, đẻ trứng rải rác tại khắp mặt dưới lá hay trên dây khoai lang. Con cái đẻ từ 150 đến 300 trứng.

Sâu non đục vào vị trí trong dây khoai lang tại chỗ gần gốc đi lên phía trên tạo thành 1 đường hầm và đùn phân màu nâu đen xuống xung quanh gốc cây khoai lang. Cây phát triển kém và lâu dần sẽ chết. Bị hại vào giai đoạn đầu thời kỳ phát triển sẽ ức chế sự hình thành củ.

Vòng đời: kéo dài từ 55 đến 65 ngày, Trứng từ 4 đến 6. Sâu non từ 35 cho tới 40 ngày. Vòng đời của Nhộng từ 10 đến 14ngày. Bướm có khả năng sống đẻ trứng từ 3 đến 5 ngày.

Dựa vào trung tâm Nghiên Cứu và Phát Triển rau Châu Á, xác định rằng gen kháng sâu đục dây khoai lang.

3.2.4. Sâu sa:

Nhộng và ngài

         

Bướm tương đối lớn, mình dài 40-50mm, sải cánh rộng 70-80mm, màu nâu có nhiều vân đen, cánh trên dài và nhọn, có 1 vết nâu sậm ở giữa. Khi xòe cánh ra trông cả thân hình như chiếc máy bay phản lực.
Trứng hìng cầu, láng bóng, đẻ riêng lẽ trên các bộ phận của cây. Sâu non to, mập, có nhiều ngấn quanh mình và có 1 gai nhọn như cái sừng ở phía sau. Màu sắc thay đổi từ xanh lá cây sang màu nâu.Sâu non đẫy sức dài 9-10 cm. Nhộng to, màu nâu đỏ, trên đầu có 1 vòi uốn cong như 1 cái vòng khuyên, nên còn gọi là con vòi voi.
Bướm bay rất khỏe và nhanh, hoạt động ban đêm, thích bã chua ngọt. Sâu non đẫy sức hóa nhộng trong đất.
Thời gian sâu non 25-30 ngày, thời gian nhộng từ 5-25 ngày tùy theo nhiệt độ.
Sâu non có thể ăn khuyết cả phiến lá. Một con sâu có thể ăn hết lá của 1 cây. Khi mật độ sâu cao di chuyển thành đàn, có thể ăn trụi lá cả ruộng khoai trong 1 đêm.
*Cách phòng trừ:

+ Tiến hành xử lý hom giống diệt trứng cùng với nhộng trước trồng cây khoai lang

+ Vun luống cao sẽ giúp hạn chế Bọ Hà và Sâu đục dây khoai lang

+ Tiến hành luân canh với những cây trồng khác

+ Sử dụng những loại thuốc trừ sâu lưu dẫn

+ Bắt sâu non bằng tay hoặc kẹp tre

4. Nhu cầu và vai trò các chất dinh dưỡng với khoai lang

Đạm có vai trò quyết định trong quá trình trao đổi chất và năng lượng cũng như các hoạt động sinh lý của cây. Giúp cho thân, lá và bộ rễ phát triển mạnh trong giai đoạn đầu hình thành củ và tạo trọng lượng củ trong giai đoạn sau. Tuy nhiên phần lớn đạm tập trung ở lá do vậy không nên bón nhiều đạm vì bón nhiều đạm khoại lang sẽ chủ yếu phát triển thân lá và ảnh hưởng đến năng suất.

Lân có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp, quá trình hình thành và phát triển của bộ rễ, đặc biệt là rễ củ, bón đầy đủ lân sẽ làm cho số lượng rễ củ nhiều góp phần cho tăng năng suất và tăng hàm lượng tinh bột, giảm tỷ lệ chất sơ trong củ.

Nhu cầu kali của khoai lang còn cao hơn cả khoai tây và khoai mì (sắn), kali có tác dụng tăng khả năng chống chịu của cây, tích lũy tinh bột và đường. Kali là yếu tố ảnh hưởng năng suất hàng đầu với khoai lang, khi bón kali có thể cho bội thu tới 86-115%. Bón kali năng suất đạt 16-24kg củ/1kg kali clorua trên nền không có hữu cơ và 24-47kg củ/1kg kali clorua trên nền có hữu cơ. Kết quả nghiên cứu khác về tương quan giữa năng suất và yếu tố hữu cơ cho thấy, bón phân hữu cơ cho khoai lang làm tăng năng suất rất tăng cao, mức đạt 29-34 tạ/ha khi bón phân chuồng và 22-23 tạ/ha khi bón rơm rạ.

                       

Phân bón hữu cơ SFJC Bio Gold và các loại NPK bón cho khoai lang

5. Kỹ thuật canh tác:

5.1 Làm đất

Khoai lang được trồng theo luống với các kích cỡ khác nhau phụ thuộc vào từng loại đất. Sau khi đất được cày ải có thời gian đất nghỉ thì tiến hành thực hiện.

  1. Đối vớiđất cát:

+ Luống rộng từ 1,2 – 1,5 m, cao từ 0,45 – 0,5 m.

+ Dây khoai trồng cắt đoạn 1 và 2  với độ dài 30 – 35 cm, không có rễ trên cây.

+ Lấp dây trồng dày hơn 10 cm.

  1. Đối với đất thịt nhẹ:

+ Luống rộng 1,2 – 1,3 m, cao 0,1 – 0,45 m.

+ Dây khoai trồng cắt đoạn 1 và 2  với độ dài 25 – 30 cm, không có rễ trên cây.

+ Lấp dây trồng từ 7 – 10 cm.

Sau khi lên luống hoàn chỉnh, rạch 1 hàng trên đỉnh luống sâu 7-10 cm, bón lót phân, phủ qua một lớp đất mỏng, sau đó đặt dây dọc giữa luống, nối đuôi nhau, dùng tay lấp đất nhẹ, lấp kín không hở cổ dây, chừa lại ngọn 5-7 cm. Mật độ trồng từ 4-5 dây/mét dài theo chiều dọc luống. Nếu trời quá khô hanh, sau khi trồng cần tưới thêm nước và vun lại luống.

Có thể trồng 4 vụ/năm, thời gian xuống giống tùy theo nông lịch ở từng địa phương. Hai vụ mùa mưa ( trồng tháng 5 và trồng tháng 8) và hai vụ trong mùa khô (trồng tháng 11 và trồng tháng 1).

5.2 Kỹ thuật chăm sóc và bón phân

5.2.1 Chăm sóc cho khoai lang

Sau khi trồng được 20 – 25 ngày thì tiến hành xới đất, làm sạch cỏ và kết hợp bón phân lần 2. Đồng thời vun nhẹ vào gốc cho cây khoai lang. Sau khi trồng khoai được 40 – 45 ngày,  xới đất, làm sạch cỏ kết hợp bón thúc 2 và vun nhẹ. Thường xuyên giữ đất ẩm, độ ẩm thích hợp khoảng 65 – 80%. Nếu vụ khoai lang gặp khô hạn thì cần phải tưới rãnh cho nước ngập 1/2 – 2/3 luống.

Sau trồng khoảng 25 – 30 ngày tiến hành bấm ngọn để tăng cường sinh trưởng, phát triển thân lá giai đoạn đầu và tăng cường tích lũy chất hữu cơ. Nhấc dây làm đứt rễ con để tập trung dinh dưỡng về củ. Nhấc dây cần tiến hành thường xuyên, nhấc xong phải đặt đúng vị trí cũ không lật dây, tránh gây tổn thương đến thân lá.

Thường xuyên thăm đồng phát hiện kịp thời sâu bệnh hại để có biện pháp phòng trừ kịp thời. Sau khi trồng khoai được 40 – 45 ngày,  xới đất, làm sạch cỏ kết hợp bón phân lần 3 và vun nhẹ. Lúc này dây bắt đầu làm củ và nuôi củ sử dụng thuốc siêu tạo củ, kích thích bén rễ tạo nhiều củ, củ to đều, hạn chế các vết bệnh trên củ, hạn chế củ bị sượng, thối củ. Có thể dùng Paclo hoặc Hac-09 để hãm dây xuống củ. Phân bón lá phun vào sáng sớm hoặc chiều mát, 10-15 ngày/lần.

5.2.2 Bón phân cho khoai lang 

Thời kỳ bón Chủng loại phân Liều lượng bón
Bón lót

 

 

——————————

Phân ủ hoai mục 5-7 tấn/ha
Hữu cơ SFJC Bio Gold G.A.P 500-600 kg/ha
NPK 20-20-15+TE

(dạng một màu)

100-150 kg/ha
Bón thúc 1

(20-25 ngày sau trồng)

 

 

 

 

 

—————————–

– NPK 15-9-20+TE

Hoặc NPK 20-20-15+TE

250-300 kg/ha
– Yogenβ

Hoặc:

– Yogen 20

 

– 40ml/bình 16 lít nước

 

– 20 gr/bình 16 lít nước

– Hoặc tưới: 400 gr/phuy (220 lít)

Bón thúc 2

(45-55 ngày sau trồng)

NPK 10-26-26+TE

Hoặc NPK 15-9-20+TE

200-250 kg/ha
Yogen 20 – 20 gr/bình 16 lít nước

– Hoặc tưới: 400 gr/phuy (220 lít)

    

 Phân bón lá Yogen 20 và Yogenβ

6. Thu hoạch

Khi cây khoai lang có biểu hiện ngừng sinh trưởng, các lá phần gốc ngả màu vàng, bới kiểm tra thấy vỏ củ nhẵn, ít nhựa thì tiến hành thu hoạch. Thu hoạch vào những ngày khô ráo, không làm tổn thương xây xát, bong vỏ ảnh hưởng đến mẫu mã và làm giảm giá trị sản phẩm./.

Sưu tầm và biên soạn KS Lê Minh Giang

 

Bình luận

bài viết cùng chủ đề

Xem thêm